TRUNG TÂM CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐÀ NẴNG

Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng khảo sát, thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ tại các xã miền núi

Trong bối cảnh phát triển kinh tế – xã hội khu vực miền núi còn nhiều thách thức, việc đưa khoa học và công nghệ vào sản xuất không chỉ là giải pháp hỗ trợ trước mắt mà còn mang ý nghĩa định hình lại phương thức phát triển theo hướng bền vững. Các hoạt động khảo sát thực địa, làm việc trực tiếp với địa phương vì vậy đóng vai trò quan trọng trong việc nhận diện đúng “điểm nghẽn” và thiết kế giải pháp phù hợp với điều kiện bản địa.

Từ ngày 06 đến 08/4/2026, Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng đã tổ chức chương trình khảo sát tại các xã Thạnh Mỹ, Tây Giang và Hùng Sơn. Kết quả khảo sát cho thấy, dù cùng nằm trong khu vực miền núi, mỗi địa phương có đặc trưng phát triển khác nhau, đòi hỏi cách tiếp cận KHCN mang tính “may đo” thay vì áp dụng đồng loạt.

Thạnh Mỹ: Định hướng mô hình sinh kế từ tài nguyên bản địa

Tại xã Thạnh Mỹ, đặc điểm nổi bật là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, thiếu tổ chức và gần như chưa hình thành hệ sinh thái ứng dụng KHCN. Với hơn 50% dân số là đồng bào dân tộc thiểu số, phương thức canh tác vẫn chủ yếu dựa vào kinh nghiệm truyền thống; sản xuất nông nghiệp mang tính tự cung tự cấp, chưa gắn với thị trường. Hoạt động chăn nuôi chủ yếu theo hình thức hộ gia đình, phân tán, chưa hình thành trang trại do hạn chế về địa hình đồi dốc và quỹ đất sản xuất.

Một số sản phẩm địa phương như rượu chế biến từ quả Bòong Boong mới dừng ở quy mô nhỏ, chưa được đầu tư nghiên cứu về quy trình sản xuất, bảo quản và phát triển thương hiệu. Nhìn chung, các hoạt động sản xuất còn thiếu sự hỗ trợ của khoa học công nghệ, dẫn đến giá trị gia tăng thấp.

Dựa trên kết quả khảo sát, Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng xác định xã Thạnh Mỹ là địa bàn phù hợp để triển khai các mô hình nông nghiệp sạch và kinh tế tuần hoàn. Các giải pháp khoa học công nghệ dự kiến tập trung vào xử lý phụ phẩm nông nghiệp theo hướng sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh tại chỗ, góp phần cải tạo đất và giảm chi phí đầu vào; đồng thời hỗ trợ tiêu chuẩn hóa quy trình sản xuất, chế biến và phát triển các sản phẩm OCOP nhằm nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh trên thị trường. Hướng tiếp cận phù hợp đối với Thạnh Mỹ không phải là triển khai các mô hình quy mô lớn ngay từ đầu, mà là từng bước áp dụng các giải pháp kỹ thuật thiết thực, dễ tiếp cận, qua đó hình thành nền tảng sản xuất ổn định và tạo tiền đề cho chuyển đổi sang sản xuất hàng hóa trong giai đoạn tiếp theo.

Làm việc với UBND xã Thạnh Mỹ về định hướng ứng dụng KHCN

Tây Giang: Vành đai dược liệu công nghệ cao và du lịch sinh thái

Xã Tây Giang hiện là địa bàn trọng điểm trong định hướng phát triển dược liệu của thành phố Đà Nẵng. Với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng đặc thù vùng núi cao, địa phương có nhiều lợi thế trong phát triển các loài cây dược liệu như ba kích, đẳng sâm, bảy lá một hoa – được xác định là nhóm cây trồng chủ lực nhằm nâng cao sinh kế cho người dân.

Thực tế cho thấy một số mô hình trồng dược liệu dưới tán rừng đã bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế, góp phần khẳng định tiềm năng phát triển theo hướng hàng hóa. Tuy nhiên, sản xuất vẫn còn đối mặt với những hạn chế như thiếu liên kết, chất lượng giống chưa đồng đều và công nghệ chế biến còn ở quy mô nhỏ. Các tổ hợp tác đã có sự đầu tư bước đầu nhưng chưa đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng và phát triển thị trường.

Từ nhu cầu thực tiễn, địa phương đề xuất tập trung vào các nội dung như khảo sát, lựa chọn mô hình phù hợp; chuyển giao kỹ thuật sản xuất theo hướng hữu cơ; hỗ trợ chế biến sâu và phát triển sản phẩm OCOP; đồng thời xây dựng thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm dược liệu.

Bên cạnh đó, Tây Giang đang từng bước định hình hướng phát triển kết hợp giữa sản xuất nông nghiệp và du lịch sinh thái thông qua các mô hình vườn dược liệu gắn với trải nghiệm văn hóa bản địa. Đây được xem là hướng đi tiềm năng nhằm gia tăng giá trị sản phẩm và đa dạng hóa nguồn thu cho người dân.

Thảo luận về định hướng ứng dụng khoa học công nghệ tại xã Tây Giang

Hùng Sơn: Phục hồi sinh kế vùng biên giới và bảo tồn dược liệu quý hiếm

Trong khi đó, xã Hùng Sơn phản ánh rõ nét những rào cản mang tính cấu trúc của khu vực miền núi. Địa hình đồi núi chia cắt, hạ tầng giao thông hạn chế làm gia tăng chi phí sản xuất và cản trở hình thành vùng nguyên liệu tập trung. Hoạt động sản xuất vẫn mang tính nhỏ lẻ, hiệu quả kinh tế chưa cao.

Tuy nhiên, địa phương lại sở hữu lợi thế về tài nguyên rừng và nguồn gen dược liệu quý hiếm. Một số mô hình hợp tác xã bước đầu hình thành cho thấy tiềm năng phát triển theo hướng liên kết sản xuất, nhưng chưa được hỗ trợ đầy đủ về khoa học công nghệ.

Để hỗ trợ xã Hùng Sơn vượt qua những khó khăn này, định hướng đặt ra là tập trung vào bảo tồn và phát triển nguồn giống dược liệu tại chỗ, đặc biệt với các loài bản địa có giá trị; đồng thời tăng cường đào tạo kỹ thuật canh tác cho người dân thông qua các hình thức tập huấn thực hành. Việc nâng cao năng lực sơ chế và bảo quản sản phẩm cũng được xem là yếu tố quan trọng nhằm giảm thất thoát sau thu hoạch và từng bước nâng cao giá trị sản phẩm.

Trao đổi với địa phương và HTX về nâng cao giá trị sản phẩm tại UBND xã Hùng Sơn

Từ kết quả khảo sát, có thể nhận thấy một điểm chung là các địa phương đều đang ở giai đoạn “tiền chuyển đổi” – nơi tiềm năng tài nguyên bản địa còn lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả do thiếu liên kết, thiếu công nghệ và thiếu định hướng dài hạn. Trong bối cảnh đó, vai trò của KHCN không chỉ dừng lại ở chuyển giao kỹ thuật, mà cần hướng đến tổ chức lại sản xuất, xây dựng chuỗi giá trị và hình thành hệ sinh thái nông nghiệp phù hợp với từng vùng.

Trên cơ sở này, Trung tâm Công nghệ Sinh học Đà Nẵng định hướng tiếp cận theo lộ trình: (i) khảo sát, đánh giá điều kiện tự nhiên và lựa chọn cây trồng, sản phẩm chủ lực phù hợp; (ii) xây dựng các mô hình thí điểm quy mô nhỏ nhưng có tính đại diện; (iii) chuyển giao quy trình kỹ thuật, đặc biệt là các giải pháp sinh học, hữu cơ và tuần hoàn; (iv) từng bước hỗ trợ phát triển chế biến, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường. Cách tiếp cận này nhằm đảm bảo tính khả thi, đồng thời tạo nền tảng để nhân rộng trong giai đoạn tiếp theo.

Có thể khẳng định, việc đưa KHCN về miền núi không phải là quá trình áp đặt công nghệ, mà là quá trình đồng kiến tạo giải pháp trên cơ sở hiểu đúng điều kiện bản địa. Khi được triển khai một cách có hệ thống và phù hợp, KHCN sẽ trở thành lực đẩy quan trọng giúp khai thác hiệu quả tài nguyên, nâng cao giá trị sản phẩm và cải thiện sinh kế cho người dân vùng sâu, vùng xa – theo hướng phát triển bền vững và dài hạn.

Thúy Diễm